Nghệ Thuật

Chư tôn đức chứng minh

Nhiều nội dung Phật sự quan trọng được chư tôn đức Tăng Ni thảo luận tại Hội nghị lần thứ II HĐTS GHPGVN khóa VIII (nhiệm kỳ 2017-2022) diễn ra tại trụ sở Ban Thường trực HĐTS phía Nam, thiền viện Quảng Đức (quận 3, TP.HCM) vào sáng nay, 28-3 với sự tham dự của chư tôn đức toàn thể HĐTS GHPGVN.

Quang lâm chứng minh, tham dự với sự hiện diện của chư tôn đức giáo phẩm: HT.Thích Giác Giới, Phó Thư ký HĐCM; HT.Thích Giác Tường, HT.Thích Như Niệm, UVTT HĐCM.

Chủ tọa hội nghị gồm có chư vị giáo phẩm: HT.Thích Thiện Nhơn, Chủ tịch HĐTS GHPGVN; HT.Thích Thanh Nhiễu, HT.Thích Thiện Pháp, đồng Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS, cùng chư tôn đức Phó Chủ tịch HĐTS.

Đại diện các cơ quan có các ông Bùi Hữu Dược, Vụ trưởng Vụ Phật giáo - Ban Tôn giáo Chính phủ; Đỗ Văn Phớn, Phó Vụ trưởng Vụ Tôn giáo - Ban Dân vận T.Ư; Lương Hoài Nhân, đại diện Ban Công tác phía Nam UBTƯMTTQVN; bà Nguyễn Lê Hà, Cục ANXH - Bộ Công an; ông Nguyễn Ngọc Phong, Phó Trưởng ban Dân vận Thành ủy; ông Lê Hoàng Vân, Phó Trưởng ban Tôn giáo TP...

ANHBT (9).JPG
Ông Đỗ Văn Phớn tặng hoa chúc mừng hội nghị

ANHBT (8).JPG
HT.Thích Thiện Nhơn phát biểu khai mạc hội nghị

Phát biểu khai mạc hội nghị, HT.Thích Thiện Nhơn cho biết, trên tinh thần Nghị quyết Đại hội khóa VIII GHPGVN, TƯGH đã ban hành Thông tư số 345/TT.HĐTS ngày 4-12-2017 và Công văn số 036/CV.HĐTS, ngày 8-3-2018 triển khai một số vấn đề cơ bản của Hiến chương tu chỉnh lần thứ VI; nhân sự, nội quy hoạt động của các Ban, ViệnT.Ư nhiệm kỳ 2017-2022. Để thực hiện, triển khai các thông tư trên, nhất là thông qua nhân sự các Ban, Viện T.Ư, Phân ban Ni giới T.Ư thuộc Ban Tăng sự T.Ư, hôm nay TƯGH tổ chức Hội nghị lần II HĐTS GHPGVN...

"Trên tinh thần trách nhiệm, trí tuệ tập thể, TƯGH mong được sự phát biểu, góp ý chân thành trong phạm vi trách nhiệm và địa bàn hoạt động của mình theo từng lĩnh vực, từng địa phương để giúp cho Giáo hội hoàn thiện chương trình chung của nhiệm kỳ 2017-2022 mà Đại hội đã thông qua và giao phó", HT.Thích Thiện Nhơn nhấn mạnh.

ANHBT (16).JPG
TT.Thích Đức Thiện báo cáo hoạt động Phật sự quý I - 2018 của GHPGVN

Thay mặt Ban Thư ký HĐTS, TT.Thích Đức Thiện, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HĐTS đã báo cáo hoạt động Phật sự quý I - 2018 của GHPGVN.

Qua đó, nhiều thành tựu Phật sự đạt được chủ yếu các hoạt động hướng dẫn tâm linh cho Phật tử, đồng bào đến đời sống an lành, phù hợp với chánh tín đạo Phật trong Tết cổ truyền; thành tựu qua các công tác của Ban Thư ký HĐTS, hai Văn phòng TƯGH, công tác Tăng sự, giáo dục đào tạo Tăng Ni, Hoằng pháp, HDPT, Văn hoá, Nghi lễ, TTXH, Phật giáo Quốc tế, Thông tin - Truyền thông, Pháp chế, Kiểm soát, Viện Nghiên cứu Phật học VN, Kinh tế - Tài chánh...

ANHBT (15).JPG
Chư tôn đức ủy viên HĐTS GHPGVN tham dự

ANHBT (7).JPG
Chư Ni ủy viên HĐTS tham dự

Hoạt động Phật sự quý II - 2018, GHPGVN sẽ thực hiện triển khai sâu rộng Nghị quyết Đại hội khóa VI vào đời sống Tăng Ni, triển khai các hoạt động Phật sự như: Tổ chức Đại lễ Phật đản, An cư kiết hạ PL.2562, Đại lễ tưởng niệm lần thứ 55 ngày Bồ-tát Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân, lễ tưởng niệm 1.000 năm Quốc Sư Vạn Hạnh viên tịch, tổ chức phân công chư tôn đức Phó Chủ tịch HĐTS phụ trách công tác Phật sự các tỉnh thành khu vực phía Nam, phía Bắc, hướng dẫn Phật giáo tỉnh Phú Yên, Hải Phòng tổ chức đại hội, lập các thủ tục xin phép Chính phủ đăng cai tổ chức Đại lễ Vesak LHQ tại Việt Nam và hoạt động Phật sự của các Ban, Viện T.Ư…

Tại hội nghị, HĐTS GHPGVN cũng công bố Công văn số 67 chấp thuận Hiến chương sửa đổi lần VI, công văn 1513 chấp thuận nhân sự HĐCM, HĐTS GHPGVN nhiệm kỳ 2017-2022 của Ban Tôn giáo Chính phủ.

ANHBT (13).JPG
HT.Thích Thanh Nhiễu điều phối chương trình hội nghị

ANHBT (14).JPG
HT.Thích Huệ Thông công bố công văn của Ban Tôn giáo Chính phủ

Chư tôn đức HĐTS GHPGVN cũng trình danh sách nhân sự dự kiến của các Ban, Viện T.Ư trình hội nghị.

Ông Bùi Hữu Dược thay mặt Ban Tôn giáo Chính phủ trình bày 15 điểm mới cơ bản của Luật tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực từ ngày 1-1-2018; các vấn đề về phân cấp, phân quyền của Luật tín ngưỡng, tôn giáo.

ANHBT (24).JPG
Ông Bùi Hữu Dược trình bày những nét mới trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo

ANHBT (6).JPG
Quang cảnh hội nghị lần thứ II HĐTS GHPGVN

Chương trình làm việc buổi chiều, hội nghị thông qua thông bạch tổ chức Đại lễ Phật đản, An cư kiết hạ PL.2562; thông tư lễ kỷ niệm lần thứ 55 Bồ-tát Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân (1963-2018), đại diện Ban Thư ký HĐTS báo cáo công tác thu chi tổ chức Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc khóa VIII, HĐTS thông báo về việc phân công chư tôn đức Phó Chủ tịch HĐTS đảm trách chỉ đạo hoạt động Phật sự các tỉnh, thành phía Nam và phía Bắc; và một số văn kiện khác.

AAHinh (3).JPG
HT.Thích Huệ Thông thông qua các văn bản tại hội nghị

AAHinh (4).JPG
HT.Thích Thiện Tánh góp ý về diễu hành xe hoa

Tại hội nghị, chư tôn đức thành viên HĐTS đã phát biểu góp ý kiến, các ý kiến thẳng thắn mang tính cách xây dựng Giáo hội với nhiều vấn đề: đề xuất cho Phật giáo Nam tông Khmer thành lập các Phân ban trực thuộc, xây dựng chương trình hội nghị “chuẩn” hơn với cơ sở vật chất phòng hội nghị hiện đại hơn, tổ chức tập huấn về dẫn chương trình, các hoạt động về văn hóa, thời gian giải quyết dứt điểm khó khăn của Phật giáo tỉnh Phú Yên, Hải Phòng, vấn đề về diễu hành xe hoa Kính mừng Phật đản; Phân ban Ni giới T.Ư trình hội nghị nhân sự dự kiến nhiệm kỳ 2017-2022...

Hội nghị thông qua danh sách nhân sự dự kiến của 12 Ban, 1 Viện T.Ư gồm: 1. Ban Tăng sự với 97 thành viên do HT.Thích Thiện Pháp làm trưởng ban; 2. Ban Hoằng Pháp: 97 thành viên do HT.Thích Bảo Nghiêm làm Trưởng ban; 3. Ban Giáo dục Phật giáo: 97 do TT.Thích Thanh Quyết làm Trưởng ban; 4. Ban Hướng dẫn Phật tử: 96 thành viên do HT.Thích Thanh Hùng làm Trưởng ban; 5. Ban Văn hóa: 97 thành viên do HT.Thích Trung Hậu làm Trưởng ban; 6. Ban Nghi  lễ: 97 thành viên do HT.Thích Huệ Minh làm Trưởng ban; 7. Ban Kinh tế - Tài chánh: 87 thành viên do TT.Thích Thanh Phong làm Trưởng ban; 8. Ban Từ thiện xã hội: 93 thành viên do HT.Thích Quảng Tùng làm Trưởng ban; 9. Ban Phật giáo Quốc tế: 97 thành viên do TT.Thích Đức Thiện làm Trưởng ban; 10. Ban Thông tin - Truyền thông: 97 thành viên do HT.Thích Gia Quang làm Trưởng ban; 11. Ban Kiểm soát: 86 thành viên do HT.Thích Thiện Tánh làm Trưởng ban; 12. Ban Pháp chế: 95 thành viên do HT.Thích Huệ Trí làm Trưởng ban và 13. Viện Nghiên cứu Phật học VN do HT.Thích Giác Toàn làm Viện trưởng.

Danh sách nhân sự dự kiến khóa VIII (nhiệm kỳ 2017-2022) trình Hội nghị lần II HĐTS GHPGVN có 1 số vị đảm trách, kiêm nhiệm từ 4 Ban trở lên sẽ được Ban Thư ký HĐTS điều chỉnh rút xuống đảm nhiệm không quá 3 Ban, trình Hòa thượng Chủ tịch HĐTS để làm tờ trình gởi Ban Tôn giáo Chính phủ, sau đó Ban Tôn giáo sẽ có văn bản trả lời, tiếp đó Ban Thường trực HĐTS chính thức có quyết định chuẩn y nhân sự của 13 Ban, Viện T.Ư theo đúng Luật tín ngưỡng, tôn giáo quy định.

Chủ tọa Hội nghị đề nghị các Trưởng Ban, Viện T.Ư tu chỉnh Nội quy hoạt động của Ban, Viện phù hợp với Hiến chương và luật tín ngưỡng tôn giáo trình Ban Thường trực HĐTS.

AAHinh (1).JPG
HT.Thích Thiện Nhơn đúc kết hội nghị

AAHinh (2).JPG
Đại biểu thành viên HĐTS

Phát biểu đúc kết, Hòa thượng Chủ tịch HĐTS GHPGVN đã ghi nhận các ý kiến đóng góp của tất cả thành viên HĐTS, giao Ban Thư ký HĐTS nghiên cứu, các ý kiến phù hợp sẽ được bổ sung vào Nghị quyết hội nghị HĐTS và chương trình hoạt động Phật sự năm 2018.

Hòa thượng cũng ghi nhận Hội nghị lần II HĐTS GHPGVN khóa VIII (nhiệm kỳ 2017-2022) đã thành công với nhiều chương trình hoạt động Phật sự được thảo luận, thống nhất thông qua. Hội nghị diễn ra với tinh thần đoàn kết, hòa hợp và thống nhất cao.

Đại biểu thông qua quyết nghị Hội nghị lần II HĐTS GHPGVN khóa VIII với 12 điểm, kết thúc lúc 16g ngày 28-3.

Quyết Nghị

1. Thông qua bản báo cáo tóm tắt công tác Phật sự quý I và một số công tác Phật sự trọng tâm quý II năm 2018 của GHPGVN.

2. Hội nghị nhất trí thông qua danh sách dự kiến nhân sự tham gia các Ban, Viện Trung ương GHPGVN nhiệm kỳ 2017-2022 trình Ban Tôn giáo Chính phủ (đính kèm danh sách).

3. Hội nghị thông qua nội dung, kế hoạch thực hiện công tác tổ chức Đại lễ Phật đản, tổ chức An cư kiết hạ PL.2562 - DL.2018 và Lễ kỷ niệm 55 Bồ-tát Thích Quảng Đức vì pháp thiêu thân.

4. Giao Ban Thư ký phối hợp với Ban Phật giáo Quốc tế Trung ương tiến hành các văn bản xin phép Chính phủ đăng cai Đại lễ Vesak năm 2019 tại Việt Nam.

5. Tổ chức Lễ tưởng niệm 1.000 năm Quốc sư Vạn Hạnh viên tịch (1018 - 2018) tại Bắc Ninh.

6. Tổ chức Hội nghị sinh hoạt Giáo hội năm 2018 tại Văn phòng 1 và Văn phòng 2 Trung ương GHPGVN, dự kiến trước mùa An cư kiết hạ PL.2562.

7. Giao Ban Thư ký HĐTS tiếp tục nghiên cứu đề xuất tu chỉnh Quy chế hoạt động Ban Thường trực HĐTS và Ban Trị sự GHPGVN cấp tỉnh và cấp huyện, trình Ban Thường trực HĐTS thông qua tại hội nghị sơ kết công tác Phật sự 6 tháng đầu năm 2018.

8. Đề nghị Trưởng các Ban, Viện Trung ương, Phân ban Ni giới Trung ương tiếp tục tiến hành tu chỉnh Nội quy hoạt động theo Hiến chương GHPGVN tu chỉnh lần thứ VI và Luật Tín ngưỡng tôn giáo, trình Hội nghị Ban Thường trực Hội đồng Trị sự thông qua.

9. Ghi nhận và nghiên cứu những ý kiến phát biểu của các Trưởng ban, Viện trưởng, Phân ban Ni giới Trung ương, quý tôn đức Tăng Ni Ủy viên HĐTS. Nghiên cứu tính khả thi để đưa vào chương trình hoạt động Phật sự năm 2018 của Giáo hội.

10. Thúc đẩy công tác tổ chức Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh Phú Yên và TP.Hải Phòng trong quý II-2018.

11. Hội nghị tiếp thu chỉ đạo trong đạo từ của Hòa thượng Chủ tịch HĐTS; Tiếp thu ý kiến phát biểu của ông Vũ Chiến Thắng, Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ, ông Bùi Hữu Dược, Vụ trưởng Vụ Phật giáo Ban Tôn giáo Chính phủ.

12. Giao Ban Thư ký và Văn phòng Giáo hội Trung ương hoàn chỉnh các văn bản có liên quan đến Hội nghị Ban Thường trực Hội đồng Trị sự sơ kết công tác Phật sự 6 tháng đầu năm 2018.

Hội nghị đã nhất trí thông qua Nghị quyết này vào lúc 16giờ, ngày 28-3-2018 trong tinh thần đoàn kết, hoan hỷ.

TM.Chủ tọa Hội nghị
Chủ tọa
HT.Thích Thiện Nhơn (đã ký)

































Kính mời bạn đọc xem thêm chùm ảnh về hội nghị:

ANHBT (17).JPG
Chư tôn đức chứng minh, chủ tọa đoàn

ANHBT (10).JPG
Ông Bùi Hữu Dược tặng hoa chúc mừng

ANHBT (11).JPG
Bà Nguyễn Lê Hà tặng hoa chúc mừng hội nghị

ANHBT (12).JPG
Ông Lê Hoàng Văn tặng hoa chúc mừng của Ban Tôn giáo TP

ANHBT (23).JPG
TT.Thích Đức Thiện góp ý tại hội nghị

Hội nghị chiều 28-3 (16).JPG
TT.Thích Thiện Thống đóng góp ý kiến

AAHinh (5).JPG
HT.Danh Lung đề xuất cho phép thành lập Phân ban trực thuộc Phật giáo Nam tông Khmer

AAHinh (9).JPG
TT.Thích Thọ Lạc trình bày về các đề án văn hóa Phật giáo

Hội nghị chiều 28-3 (12).JPG
HT.Thích Minh Thiện góp ý

AAHinh (7).JPG
TT.Thích Quảng Truyền

AAHinh (10).JPG
HT.Thích Thiện Nhơn trao lo-go kênh Phật sự online TV đến TT.Thích Minh Nhẫn

AAHinh (8).JPG
NT.TN Huệ Từ trình danh sách nhân sự Phân ban Ni giới T.Ư

ANHBT (6).JPG
Hội nghị lần II HĐTS GHPGVN khóa VIII thành công tốt đẹp


H.Diệu - Ảnh: Bảo Toàn

Nguồn: https://giacngo.vn/thoisu/tintuc/2018/03/28/7762DA/

NSGN - Ngài Huệ Năng (638-713) là một bậc cao tăng của thiền lâm Đông Độ. Cuộc đời cũng như tư tưởng của ngài là nguồn chất liệu và xúc cảm thiêng liêng để hình thành nên những pháp hành tu tập, những tác phẩm đặc thù cũng như khai mở những truyền thống sơn môn đa dạng của Phật giáo Bắc truyền, mà trong số đó đã truyền thừa đến Việt Nam. 

Từ những giai thoại cũng như những tư liệu khả tín về cuộc đời của ngài, đã chuyển tải nhiều nội dung tưởng chừng nghịch lý. Ở đây, dựa trên tư liệu kinh điển từ Hán tạng cho đến Nikāya, chúng tôi cố gắng thuyết minh sự hợp lý từ những điều nghịch lý, cũng như chỉ ra tính tất yếu từ cuộc đời của ngài, đó là tiến trình giác ngộ. Việc lạm bàn năng lực chứng ngộ của một bậc cao tăng của một kẻ chưa vượt bờ, cũng khiên cưỡng như phương cách cố gắng mô tả mặt trời bằng ánh sáng lúc hừng đông. Do vậy, bằng sự cẩn trọng và cân nhắc, chúng tôi sẽ tiếp cận tiến trình ngộ đạo của ngài Huệ Năng xoay quanh ba sự kiện: Giữa phố nghe kinh; Nửa đêm thọ pháp và Những dấu hiệu của bậc Thánh.

Giữa phố nghe kinh

Theo kinh Pháp bảo đàn, khi còn tại gia, ngài Huệ Năng làm nghề đốn củi, kính phụng mẹ già. Lúc bấy giờ, có khách mua củi và yêu cầu gánh đến tận nhà, khách nhận củi trao tiền, Huệ Năng liền rời đi, khi ra khỏi cửa liền thấy một người đang tụng kinh, vừa nghe lời kinh, tâm Huệ Năng liền khai ngộ1.

Sự kiện vừa nghe một câu kinh liền chợt khai ngộ của ngài Huệ Năng không phải là trường hợp đầu tiên trong lịch sử kinh điển Phật giáo. Theo tác phẩm Cullavagga, khi lần đầu tiên nghe tôn hiệu Đức Phật, trưởng giả Cấp-cô-độc (Anāthapiṇḍika) đã chấn động tâm tư nên đã hỏi lại ba lần, là nhân duyên sơ khởi để trưởng giả quy kính Đức Phật và phát nguyện hộ trì Tam bảo sau đó2. Tương tự, ngài Xá-lợi-phất (Sārīputta) khi vừa hội kiến Tỳ-kheo Assaji và được nghe một bài kệ ngắn, đã rúng động tâm can, khai mở pháp nhãn (dhammacakkhuṃ udapādi), nên đã tìm Phật và phát nguyện xuất gia3

Tham chiếu kinh điển cho thấy, trường hợp khi vừa nghe kinh, tâm liền khai ngộ của ngài Huệ Năng, là dấu hiệu cho thấy ngài Huệ Năng đã thành tựu phẩm vị Chuyển tánh

Bậc Chuyển tánh, có khi được dịch là Chuyển tộc, Chuyển biến, cũng có khi được gọi là bậc Chân nhân (Sappurisa). Theo kinh Tăng chi bộ4, bậc Chuyển tánh là một trong chín hạng người (A.iv,373), hoặc mười hạng người (A.v,23)5 ở đời đáng được cung kính, cúng dường và tôn trọng. Kinh Tăng nhất A-hàm ở Hán tạng cũng mang ý nghĩa tương tự nhưng với tên gọi là Chủng tánh nhân6. Nguyên tác ở kinh tạng Pāli ghi là Gotrabhū. Đây là giai vị chuyển từ phàm sang Thánh, chuẩn bị bước vào Thánh đạo, phẩm vị này tuy thấp nhưng sở hữu một trí tuệ thù thắng và có phước quả. 

Về năng lực trí tuệ, ở phẩm vị Chuyển tánh có một trí tuệ hơn người. Tác phẩm Phân tích đạo (Paṭisambhidāmagga), đã nêu ra những phẩm tính cụ thể của tuệ chuyển tánh (Gotrabhū-ñāṇa), là tuệ thứ 13 trong 16 loại thiền tuệ minh sát. Tuệ chuyển tánh (Gotrabhū-ñāṇa) có công năng đưa một chúng sanh từ địa vị phàm phu (Putthujjana) sang bậc Thánh cao quý (Ariyāpuggala)

Căn cứ theo kinh Tương ưng (S.iii,225), Đức Phật dạy rằng: Này các Tỳ-kheo, ai có lòng tin, có tín giải đối với những pháp này; vị ấy được gọi là Tùy tín hành (Dhammānusārī), đã nhập Chánh tánh (Okkanto sammattaniyāmaṃ), đã nhập Chân nhân địa (Sappurisabhūmiṃ okkanto), đã vượt phàm phu địa (Vītivatto puthujjanabhūmiṃ). Vị ấy không có thể làm những hành động gì, do làm hành động ấy phải sanh vào địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ; một vị không có thể mệnh chung mà không chứng quả Dự lưu7. Ở đây, quá trình thành tựu Chân nhân địa (Sappurisabhūmiṃ) theo kinh Tương ưng cũng tương đồng với Chủng tánh địa (種性地) như kinh Tỳ-ni-mẫu ở Hán tạng đã chỉ ra8

Với ngài Huệ Năng, từ một lần chợt nghe kinh Kim cang trong phố, tâm ngài rơi vào trạng thái ngưng thần (凝神)9, mọi vọng tưởng khi ấy hoàn toàn dứt bặt10, khoảnh khắc đó đã dẫn đến sự khai mở tuệ giác của một bậc Chân nhân (Sappurisa). Vì lẽ, với một người quê mùa và không biết chữ, nhưng đoạn đối thoại khi sơ ngộ giữa ngài và Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, đã cho thấy mặt trời trí tuệ đã thực sự hiện hữu trong tâm của ngài Huệ Năng: 

Ngũ tổ hỏi: Ông từ phương nào đến, và muốn cầu thỉnh điều gì? Huệ Năng đáp: “Đệ tử là dân Tân Châu ở Lãnh Nam, từ xa về lễ Tổ, chỉ cầu làm Phật chứ không mong gì khác”. Tổ nói: Ngươi dân Lãnh Nam, ở chốn quê mùa thì làm sao kham thành Phật? Huệ Năng đáp: Người tuy có Bắc-Nam, nhưng Phật tánh vốn không phân Nam-Bắc, thân quê mùa này cùng với thân Hòa thượng có gì sai khác? Và Phật tánh giữa con và Hòa thượng có gì sai biệt nhau?11.

Về phương diện phước quả, theo kinh Tăng chi bộ đã dẫn ở trên, một khi thành tựu phẩm vị Chuyển tánh(Gotrabhū), cũng như đã vượt phàm phu địa (Vītivatto puthujjanabhūmiṃ), thì người đó luôn được cung kính, cúng dường và tôn trọng. Chính vì vậy, từ khi chợt ngộ do được nghe kinh Kim cang, ngài Huệ Năng luôn được nhiều người quan tâm hỗ trợ, như việc có người vô danh tặng cho mười lạng bạc để chu cấp đời sống cho mẹ già, cũng như hỗ trợ các chi phí thường nhật của đời sống tại gia12, để ngài an tâm đến Hoàng Mai cầu pháp với Ngũ tổ, là những sự việc hoàn toàn có cơ sở từ kinh điển. 

Như vậy, kể từ thời điểm chợt ngộ khi nghe một câu kinh, tuy chưa đạt được quả vị nào trong tứ quả Thanh văn, nhưng ngài Huệ Năng đã lìa khỏi địa vị phàm phu và bước lên Chân nhân phẩm vị (Sappurisabhūmiṃ)

Nửa đêm thọ pháp

Khi được theo chúng tu học dưới sự hướng dẫn của ngài Hoằng Nhẫn tại Hoàng Mai, ngài Huệ Năng phải trải qua tám tháng chấp lao phục dịch ở khu vực nhà bếp. Một lần Ngũ tổ chợt ghé qua nơi ấy, bằng phong cách thiền ngữ đặc thù, ngài hỏi: Gạo đã trắng chưa?13. Huệ Năng đáp: Gạo trắng đã lâu, chỉ còn việc giần, sàng14. Từ câu trả lời này, ngài Hoằng Nhẫn biết rằng tâm cơ của ngài Huệ Năng đã đến thời khai ngộ, nên đã dặn riêng đến thất của ngài vào canh ba đêm ấy. 

Giữa bốn bề tĩnh mịch đêm khuya, ngài Hoằng Nhẫn đã biệt truyền kinh Kim cang cho ngài Huệ Năng, khi nghe đến câu: Không nên trú tâm, để tâm dính mắc, bất cứ pháp nào15, ngài Huệ Năng liền đại ngộ (大悟). Ngay khi đó, ngài Huệ Năng liền trình với Ngũ tổ sở chứng của mình qua bài kệ: 

Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh, 
Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt, 
Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ, 
Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động, 
Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp! 
(
HT.Thích Thanh Từ dịch).

Sau đó, Ngũ tổ đã ấn chứng và truyền y bát cho ngài Huệ Năng làm Tổ thứ sáu. 

Như vậy, kể từ thời điểm này ngài Huệ Năng đã chính thức đảm nhận vai trò Tổ vị của thiền lâm Đông Độ. Ở đây, điểm cần làm sáng tỏ là quả vị giác ngộ của ngài Huệ Năng trong thời điểm ấy ở phẩm vị nào? 

Trước hết, người lãnh ngộ được chân lý, Hán tạng gọi là bậc kiến pháp (見法, diṭṭhadhamma) hoặc khai pháp nhãn(開法眼, dhammacakkhuṃ udapādi). 

Theo kinh Xuất diệu, khi được pháp nhãn, thì chứng quả Tu-đà-hoàn16 tức quả vị Dự lưu. 

Theo luận Du-già-sư-địa, có mười điều lợi ích khi được pháp nhãn17. Luận ghi: 

Lại nữa, xa trần lìa cấu, ở trong các pháp, lúc được pháp nhãn, nên biết tức được mười thứ thắng lợi. Đó là: 

1- Nơi bốn Thánh đế đã khéo thấy rõ, nên gọi là thấy pháp. 

2- Theo đấy, đạt được một loại quả Sa-môn, nên gọi là đắc pháp. 

3- Đối với chỗ đã chứng đắc, có thể tự nhận biết rõ: Ta nay đã dứt hết nghiệp nơi ba nẻo ác. Ta đã chứng đắc quả Dự lưu cho đến nói rộng. Do như thế nên gọi là biết pháp. 

4- Được bốn chứng tịnh, đối với Phật Pháp Tăng nhận biết đúng như thật, nên gọi là kiên pháp khắp. 

5- Đối với chỗ tự chứng đắc không lầm lạc. 

6- Đối với chỗ chứng đắc của kẻ khác không nghi. 

7- Lúc tuyên thuyết giáo pháp tương ưng với Thánh đế, không dựa vào duyên khác. 

8- Không quán xét về hình tướng cùng ngôn thuyết của kẻ khác. Ở trong Chánh pháp Tỳ-nại-da này, hết thảy luận khác đều không thể chuyển. 

9- Ký biệt về tất cả chỗ chứng đắc, giải thoát đều là vô sở úy. 10- Do hai nhân duyên nên tùy nhập Thánh giáo. Tức là thế tục chân chánh cùng đệ nhất nghĩa. 

(Cư sĩ Nguyên Huệ dịch)18

Bên cạnh đó, kinh Tăng chi bộ (A.iii,441) cũng nêu ra sáu điều lợi ích khi chứng được quả vị Dự lưu. Kinh ghi: 

1. Có sáu lợi ích, này các Tỳ-kheo, khi chứng ngộ quả Dự lưu. Thế nào là sáu? 

2. Sự quyết định đối với diệu pháp không có bị thối đọa; không có bị đau khổ; làm các việc bị sanh tử hạn chế; thành tựu trí tuệ; không cùng chia sẻ với các dị sanh; nguyên nhân và các pháp do nhân sanh được khéo thấy19

Như vậy, theo luận Du-già-sư-địa, kể từ khi đạt được quả vị Dự lưu thì vị ấy có năng lực thấy rõ bốn Thánh đế và thuyết pháp tương ưng với Thánh đế. Khảo sát bài kệ chứng ngộ của ngài Huệ Năng chứa đựng nhiều chất liệu phù hợp với Kinh tạng. 

Trong bài kệ, khái niệm cơ bản được đề cập chính là yếu tố tự tánh. Theo kinh Lăng-già-a-bạt-đa-la-bảo, quyển hai, thì tự tánh là một cách biểu đạt khác của Niết-bàn20. Khi đối chứng ba mươi từ đồng nghĩa về Niết-bàn trong kinh Tương ưng bộ (S.iv,360)21, thì bài kệ này có nhiều điểm tương đồng. 

Đơn cử, khi nói tự tánh vốn tự thanh tịnh, tức đề cập đến phương diện Thanh tịnh (Visuddhi) của Niết-bàn. Khi nói: tự tánh vốn không sanh diệt, tức là đề cập đến phương diện Bất tử (Amatam) của Niết-bàn. Khi nói: tự tánh vốn tự đầy đủ, tức đề cập đến sự Đầy đủ thái bình (Khemam) của Niết-bàn. Khi nói: Khi nói: tự tánh vốn không dao động, tức là đè cập đến yếu tố Thường hằng (Dhuvam) của Niết-bàn. Khi nói: tự tánh hay sanh muôn pháp, tức là đề cập đến yếu tố Chân lý (Saccam) của Niết-bàn. Chân lý của Niết-bàn cũng chính là không tính. Theo Trung luận: nhờ có nghĩa không này mà các pháp được thành tựu22(Còn tiếp)

Chúc Phú
_____________

(1) 大正藏第 48 冊 No. 2008 六祖大師法寶壇經. Nguyên văn: 時, 有一客買柴, 使令送至客店; 客收去, 惠能得錢, 却出門外, 見一客誦經. 惠能一聞經語, 心即開悟. 
(2) Cullavagga, chương Sàng tọa, đoạn 241, Câu chuyện gia chủ Anāthapiṇḍika: Nghe danh Đức Phật, Tỳ-kheo Indacanda dịch. 
(3) Mahāvagga, chương trọng yếu, đoạn 64, Câu chuyện về Sārīputta và Moggallānam Câu chuyện về Trưởng lão Assaji, Tỳ-kheo Indacanda dịch. 
(4) Kinh Tăng chi bộ, tập 2, HT.Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2015, tr.454. 
(5) Kđd, tr.545. 
(6)大正藏第 02 冊 No. 0125 增壹阿含經, 卷第四十,九眾生居品,七. 
(7) Kinh Tương ưng bộ, tập 2, HT.Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2013, tr.65.
(8)大正藏第 24 冊 No. 1463 毘尼母經, 卷第一. Nguyên văn:云何名種性地?有人在佛邊聽法,身心不懈念念成就,因此心故豁然自悟得須陀洹. 
(9) 大正藏第 50 冊 No. 2061 宋高僧傳, 卷第八, 唐韶州今南華寺慧能傳. 
(10)大正藏第 04 冊 No. 0211 法句譬喻經,卷第二,喻華香品. Nguyên văn: 凝神斷想自致得道. 
(11)大正藏第 48 冊 No. 2008 六祖大師法寶壇經.
(12)大正藏第 48 冊 No. 2008 六祖大師法寶壇經. Nguyên văn: 乃蒙一客,取銀十兩與惠能,令充老母衣糧. 
(13)大正藏第 48 冊 No. 2008 六祖大師法寶壇經. Nguyên văn: 米熟也未. 
(14)大正藏第 48 冊 No. 2008 六祖大師法寶壇經. Nguyên văn: 米熟久矣,猶欠篩在. 
(15)大正藏第 48 冊 No. 2008 六祖大師法寶壇經. Nguyên văn: 應無所住而生其心. 
(16)大正藏第 04 冊 No. 0212 出曜經, 卷第二. Nguyên văn: 得法眼淨成須陀洹. 
(17)大正藏第 30 冊 No. 1579 瑜伽師地論, 卷第八十六. Nguyên văn: 於四聖諦已善見故.說名見法. 
(18) Luận-du-già-sư-địa, tập 4, Nguyên Huệ dịch, Nxb Hồng Đức, 2013, tr.216-217. 
(19) Kinh Tăng chi bộ, tập 2, HT.Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2015, tr.163. 
(20)大正藏第 16 冊 No. 0670 楞伽阿跋多羅寶經, 卷第二. Nguyên văn: 佛告大慧:我說如來藏,不同外道所說之我. 大慧!有時說空, 無相, 無願, 如, 實際, 法性, 法身, 涅槃, 離自性, 不生不滅, 本來寂靜, 自性涅槃, 如是等句, 說如來藏已. 
(21) Kinh Tương ưng bộ, tập 2, HT.Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2013, tr. 406-408. 
(22) 大正藏第 30 冊 No. 1564 中論, 卷第四. Nguyên văn: 以有空義故,一切法得成.
Thứ ba, 27 Tháng 2 2018 15:53

Chùa Heain: Tổ đình của phái Tào Khê


Toàn cảnh chùa Haein

Chùa Haein(해인사; 海印寺: Hải Ấn tự), một trong ba ngôi chùa được gọi là Sambosachal (Tam bảo), có lẽ là ngôi chùa nổi tiếng nhất của Phật giáo Hàn Quốc. Tọa lạc tại Công viên quốc gia Gayasan, thuộc tỉnh Gyeongsang, ngôi chùa này là tổ đình của tông phái Tào Khê Hàn Quốc (대한불교조계종;大韓佛敎曹溪宗: Đại Hàn Phật giáo Tào Khê tông).

Trong ba ngôi chùa được gọi là Sambosachal này, chùa Haein đại diện cho Pháp bảo (trong khi chùa Tongdo đại diện cho Phật bảo và chùa Songgwang đại diện cho Tăng bảo). Sở dĩ như vậy vì nơi đây hiện đang lưu giữ bộ Đại tạng kinh Hàn Quốc được khắc lên gỗ vào triều đại Goryeo (918-1392), và bộ Đại tạng này được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Theo truyền thuyết, chùa Haein được thành lập vào thế kỷ VII, với ban đầu là một ngôi chùa nhỏ được làm bằng cây lá. Nhưng về phương diện lịch sử, ngôi chùa do hai vị Tăng tên là Suneung và Ijeong xây dựng vào năm 802 và là một tu viện thuộc Hoa Nghiêm tông. Một ghi chép của Choe Chi-Won vào năm 900 nói rằng, Sueung và đệ tử của ông là Ijeong, sau khi tu học ở Trung Quốc trở về, đã được hoàng hậu hỗ trợ tài chính để kiến tạo nên ngôi chùa này. Về sau, vua Taejo thuộc triều đại Goryeo, vì để tạ ơn vị trụ trì của chùa là Huirang đã giúp chữa lành bệnh của hoàng hậu, ông cho mở rộng chùa thành một ngôi đại tự và là trung tâm học thuật quan trọng của Hoa Nghiêm tông. Kể từ đó, hàng trăm Tăng sĩ đã về đây tu học và chùa Haein trở nên vô cùng hưng thịnh.

HaianHQ (2).jpg
Nội viện chùa Haein


Chùa Haein đóng chức năng như một trung tâm chính của Phật giáo Seon Hàn Quốc từ khi được thành lập. Phật giáo Seon (Sŏn, 禪: thiền) là một phiên bản Hàn Quốc của Thiền (Zen) Nhật Bản. Và một trong những đặc điểm của tông phái này là chùa chiền thường được xây dựng ở trong núi.

Chùa Haein nằm trên một triền đồi thoai thoải và được sắp xếp thành ba bậc. Giống như hầu hết những ngôi chùa ở Hàn Quốc, lối vào chùa bắt với một chiếc cổng nhỏ được gọi là Iljumun, mà nó tượng trưng cho việc khởi đầu việc tu học Phật của con người. Con đường tiếp tục đi qua cổng Tứ Đại Thiên Vương, cánh cổng tượng trưng cho việc bảo vệ ngôi chùa, và tiếp theo là cổng Bullimun hay “Bất nhị môn”, tượng trưng cho sự hợp nhất của vạn vật. Bên trong khu vực chính của ngôi chùa, mà nó nằm cao hơn những cổng vào, có vào khoảng mười hai ngôi điện. Ngôi điện chính, Daejeokgwangjeon (대적광전, 大寂光殿: Đại Tịch Quang điện), là nơi thờ Đức Phật Tỳ Lô Giá Na (Vairocana). Trong truyền thống Phật giáo Hàn Quốc, Phật Tỳ Lô Giá Na là một biểu tượng của khái niệm tính Không Phật giáo. Trong chánh điện thờ một bức tượng Phật Tỳ Lô Giá Na bằng gỗ được tạc vào năm 1769, và đây là bức tượng bằng gỗ cổ nhất ở xứ này. Ở Hàn Quốc, các ngôi chánh điện thường thờ tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mà hiếm khi thờ Phật Tỳ Lô Giá Na.

Bởi vì là nơi lưu giữ Tam tạng Hàn Quốc được khắc lên gỗ, chùa Haein trở nên nổi tiếng, và tạng kinh này đặc biệt gây chú ý cho những người đến đây. Tàng kinh các với tên gọi Janggyeonggak,nơi lưu giữ bộ kinh, bao gồm hai tòa nhà dài. Niên đại xây dựng tòa kinh các không được biết rõ, chỉ biết rằng nó được trùng tu vào những năm thập niên 80 của thế kỷ XV. Nền của kiến trúc này được đặt các lớp muối, than, vôi và cát bên dưới, mà chúng giúp giảm độ ẩm và ngăn chặn côn trùng nhằm bảo vệ những bản kinh gỗ khỏi bị hư hại. Tòa nhà quay về hướng Tây nam, cũng được cho là để tránh ánh nắng trực tiếp có thể ảnh hưởng độ bền của các phiến gỗ. Bên trong, những cửa ra vào, cửa sổ và các kệ chứa các bản kinh đều được đặt ở những góc chính xác để được thông gió tốt. Nói chung, những người thiết kế tòa kinh các này đã tính đến những yếu tố khoa học nhằm bảo vệ tàng kinh này qua năm tháng. Đáng tiếc, hiện giờ du khách chỉ được chiêm ngưỡng tạng kinh bằng gỗ này từ bên ngoài, mà không được vào bên trong, mục đích là để bảo vệ tạng kinh.

Quần thể ngôi chùa được nâng cấp vào các thế kỷ X, XV (1488), và XVII (vào các năm 1622 và 1644). Lần trùng tu khác là vào năm 1964; và trong lần này người ta đã phát hiện một chiếc hoàng báo của vua Gwanghaegun thuộc triều đại Joseon, người đã hỗ trợ cho lần trùng tu vào năm 1622, và một bản chữ khắc. Giống như tất cả những ngôi chùa cổ khác của Hàn Quốc, chùa Haein bị thiêu cháy nhiều lần, bao gồm lần hỏa hoạn xảy ra vào năm 1817 (và sau đó được xây lại vào năm 1818). Tuy nhiên, lần hỏa hoạn nặng nề nhất xảy ra vào tháng 9 năm 1951, trong cuộc chiến Triều Tiên. Tuy chùa chịu nhiều thiệt hại trong giai đoạn này nhưng bộ Đại tạng kinh quý giá bằng gỗ vẫn lưu giữ được, điều này nhờ vào công của Kim Young Hwan.

HaianHQ (4).jpg
Đại tạng kinh chùa Haein - Bảo vật quốc gia Hà Quốc


Theo sử liệu Hàn Quốc, trong cuộc chiến Triều Tiên, những du kích Bắc Hàn đã sử dụng ngôi chùa Haein làm cơ sở trú ẩn của họ, tuy nhiên vị trụ trì chùa đã thuyết phục họ nên rời đi. Quân đội Nam Hàn nghĩ rằng những du kích vẫn đang còn ở đó nên ra lệnh dội bom ngôi chùa. Vị chỉ huy phi đội lái máy bay ném bom bấy giờ, Kim Young Hwan, lo sợ rằng tàng kinh các với tất cả Đại tạng kinh bằng gỗ sẽ bị hủy hoại nếu bom dội xuống đây, do đó từ chối thực thi mệnh lệnh, và rồi ông đã bị kỷ luật. Tuy nhiên sau chiến tranh, ông được xem là một anh hùng vì đã bảo vệ được di sản văn hóa. Chùa Haein đã tránh được mọi tai họa kể từ đó, và trở thành cơ sở của những vị Tăng nổi tiếng của Hàn Quốc trong những thập kỷ tiếp theo.

HaianHQ (3).jpg
Sinh hoạt của chư Tăng chùa Haein


Ngày nay, chùa Haien là một địa danh được nhiều người biết đến. Tuy nhiên, vì chùa nằm trên núi và cách trạm xe bus khoảng 3 km, nên có một ít khó khăn khi đến ngôi chùa này. Nhưng bất chấp điều đó, nhiều người vẫn tìm đến đây để chiêm bái cảnh chùa và thưởng lãm bộ Đại tạng kinh nổi tiếng. Và đến đây, nếu muốn, ta cũng có thể ở lại đây tu tập trọn ngày cùng với các thầy và tìm hiểu thêm về nếp sống của chư Tăng Hàn Quốc trong một khung cảnh vô cùng yên tĩnh và thanh bình.


Nguyễn Đăng

Nguồn: https://giacngo.vn/nguyetsan/vanhoa/2018/02/27/52E098/

Thứ năm, 22 Tháng 2 2018 13:54

Ý nghĩa đàn Dược Sư thất châu

Đàn tràng Dược Sư đầu xuân Mậu Tuất
thiết trí trang nghiêm tại Việt Nam Quốc Tự - Ảnh: Bảo Toàn

GN - LTS: Nhân mùa lập đàn Dược Sư cầu an đầu năm, nhiều bạn đọc thắc mắc về ý nghĩa của việc lập đàn này, nên Giác Ngộ online đăng lại bài viết của TT.Thích Lệ Trang đã đăng trên Giác Ngộ số 682, năm 2013. Mời bạn đọc cùng xem lại...

.....................................

Từ ngàn xưa người Việt Nam chúng ta đã được thấm nhuần tinh thần từ bi của đạo Phật, tổ tiên ta đã Phật hóa gia đình, giáo dục con cháu phải biết chia sẻ hạnh phúc, ban rải tình thương đến mọi người, mọi loài, cỏ cây đất đá.

Cho nên ngày xuân mọi người chúc tụng những lời tốt đẹp, chia sẻ những thành quả của mình đến mọi người. Bày biện Tổ đường trang nghiêm cũng là để thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn của con cháu. Hơn thế nữa, người ta còn đi trẩy hội ngoạn thủy du sơn, tham lễ, dâng hương các đạo tràng, các danh sách của chư vị Tổ sư, hầu thăm các bậc chân tu, đạo hạnh để được lắng nghe những kinh nghiệm tu tập, những lời dạy cao quý của các ngài, để lấy đó làm kim chỉ nam định hướng cho con đường tu nhân học Phật.

Với truyền thống hộ quốc an dân của Phật giáo Việt Nam, ngày xuân các chùa thường tổ chức những lễ hội cầu cho mưa thuận gió hòa, nhân dân an lạc. Trên tinh thần cao quý đó, chư tôn đức Ban Trị sự THPG TP.Hồ Chí Minh tổ chức Pháp hội Dược Sư diên thọ kỳ quốc thái dân an, nguyện phong điều vũ thuận tại địa điểm chùa Huê Nghiêm, quận 2 vào ba ngày 17, 18 và 19 tháng Giêng xuân Quý Tỵ.

Đàn tràng được thiết kế theo đồ hình Dược Sư Mạn-đà-la với hình ảnh như một hoa sen nở trọn tám cánh. Mỗi cánh sen có một Đức Phật được bố trí theo chiều thuận nghịch như sau:

1. Đức Thiện Danh Xưng Kiết Tường Như Lai, ở quốc độ tên là Quang Thắng, cách thế giới Ta-bà 4 hằng hà sa Phật độ; 2. Đức Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương Như Lai, ở quốc độ tên là Diệu Bảo, cách thế giới Ta-bà 5 hằng hà sa Phật độ; 3. Đức Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Như Lai, ở quốc độ tên là Viên Mãn Hương Tích, cách thế giới Ta-bà 6 hằng hà sa Phật độ; 4. Đức Vô Ưu Tối Thắng Kiết Tường Như Lai, ở quốc độ tên là Vô Ưu, cách thế giới Ta-bà 7 hằng hà sa Phật độ; 5. Đức Pháp Hải Lôi Âm Như Lai, ở quốc độ tên là Pháp Tràng, cách thế giới Ta-bà 8 hằng hà sa Phật độ; 6. Đức Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông Như Lai, ở quốc độ tên là Thiện Trụ Bảo Hải, cách thế giới Ta-bà 9 hằng hà sa Phật độ; 7. Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai, ở quốc độ Tịnh Lưu Ly, cách thế giới Ta-bà 10 hằng hà sa Phật độ.

Bảy Đức Phật này đều ở về phương Đông.

Ngụ ý sâu xa ở Pháp hội Dược Sư Thất Châu này là Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni muốn dạy cho chúng ta phải hướng về nẻo ánh giác mà tiến tu, quá trình tu tập phải trải qua bảy giai đoạn được tượng trưng mật nghĩa bằng bảy thế giới của bảy Đức Phật ở phương Đông.

Phương Đông là nơi mặt trời xuất hiện, xua tan bóng tối đêm dài. Càng gần Ta-bà bao nhiêu thì càng cách xa mặt trời bấy nhiêu. Trái lại, càng xa Ta-bà bao nhiêu thì càng lại gần mặt trời bấy nhiêu. Đó là ý nghĩa vi diệu của Pháp hội Dược Sư mà chúng ta cần phải quán niệm:

Muốn gần ánh sáng giác ngộ thì phải tránh xa với hắc ám vô minh. Học Phật là bắt chước cách sống, cách làm, cách nghĩ, cách nói luôn tỉnh thức của Đức Phật, để chuyển hóa cách sống, cách làm, cách nghĩ, cách nói thường mê lầm của chúng sanh. Tu tập theo đạo Phật là phải đem tuệ giác tỉnh thức của Đức Thế Tôn để chiếu soi lại cuộc sống của phàm tình để thấy rõ mình là ai, mình đang bước đi trên con đường nào, con đường đó có đưa mình đến cung điện Niết-bàn, an vui hạnh phúc không?

Dược Sư là thầy thuốc; Dược Sư cũng có thể hiểu là một phương thuốc.

Lưu Ly Quang là ánh sáng trong suốt như ngọc lưu ly, tượng trưng cho ba nghiệp thân khẩu ý hoàn toàn thanh tịnh.

Danh hiệu của bảy Đức Phật chính là bảy phương thuốc để trị liệu thân bệnh, tâm bệnh, nghiệp bệnh của chúng sanh bằng sự thanh tịnh. Nói theo tinh thần Phật học thì hồng danh đức hiệu của mỗi Đức Phật là một phương thuốc; là một pháp hành mà người học Phật phải ứng dụng trong sinh hoạt hàng ngày để chuyển hóa khổ đau đem lại an vui hạnh phúc.

Tu tập theo kinh Dược Sư, hành giả phải lắng lòng thanh tịnh trì niệm danh hiệu của từng Đức Phật cho miên mật, nghĩa là phải thường xuyên uống thuốc (Dược Sư) để đào thải các chất phàm phu hắc ám ở trong mỗi chúng ta, và làm cho ánh sáng lưu ly an lành xuất hiện, càng giảm vô minh si ái tăm tối, thì càng tăng ánh sáng lưu ly tươi đẹp.

Pháp môn xưng danh là một phương pháp tự kỷ ám thị, mà hiệu lực không thể đo lường, nếu chúng ta áp dụng một cách chí thành chí khẩn. Nhưng hiệu lực ấy có cùng không có, ít hay nhiều đều tùy thuộc vào sự hiểu biết của chúng ta đối với ý nghĩa nằm trong đức hiệu của chư Phật.

Có hiểu sâu ý nghĩa ấy mới thấm thía vào lòng ta, ám ảnh ta. Rồi thời gian sẽ khắn khít với ta và trở thành nguồn cảm hứng, từ đó sẽ lưu xuất ra những tư tưởng, ngôn ngữ và hành động tương xứng với ý nghĩa ấy.

Ba cõi do tâm tạo; Muôn pháp từ thức biến. Thiên đường địa ngục, đau khổ an vui đều do tâm ta quyết định

Tu học theo Pháp môn Dược Sư là phải thắp đèn trí tuệ liên tục. Treo Thần phan năm sắc (phong độ, cách sống luôn tươi đẹp) để trang nghiêm tự thân, trang nghiêm pháp hội.

Đem chất liệu từ bi đượm thấm ba nghiệp để lời nói, hành động và ý nghĩa đều có tính dược, hầu chuyển hóa khổ đau của kiếp người và trị liệu những chứng bệnh trầm kha trong cuộc sống.

Giải kết giải kết giải oan kết

Nghiệp chướng bao đời đều giải hết

Rửa sạch lòng trần phát tâm thành kính

Đối trước Phật đài cầu xin giải kết.

Quy mạng Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Vương.

Xin Ngài ban ánh sáng lưu ly thanh tịnh cho mọi người để được sống an lành trong tuệ giác từ bi của Đức Phật.

TT.Thích Lệ Trang


Chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội TP, quận huyện tham gia khóa tuSáng nay, 15-8, ngày thứ năm trong khóa tu, chư tôn đức Tăng lãnh đạo BTS Phật giáo TP.HCM, ban trực thuộc và 24 BTS Phật giáo quận, huyện tham gia khóa cấm túc 10 ngày tại Việt Nam Quốc Tự (số 242-244, đường 3/2, quận 10, TP.HCM) thảo luận các vấn đề Tăng sự.

HT.Thích Trí Quảng, Phó Pháp chủ HĐCM, Trưởng BTS GHPGVN TP.HCM chứng minh, điều phối buổi pháp đàm; HT.Thích Minh Thông, Phó Trưởng ban Tăng sự T.Ư, Trưởng ban Tăng sự TP trình bày về thọ giới, truyền giới, Đức Phật chế định về trách nhiệm của bổn sư với đệ tử.

HT.Thích Minh Thông mở đầu phần này với quy định được Đức Phật chế định, trách nhiệm của một Tỳ-kheo trong nuôi dạy chúng. Theo đó, Tỳ-kheo có 10 tuổi hạ (hạ lạp) trở lên mới được nhận đệ tử; Tỳ-kheo-ni từ 12 tuổi hạ trở lên mới được nhận đệ tử. Mỗi năm, vị bổn sư chỉ nhận 1 đệ tử để nuôi dạy đến khi đệ tử thọ Tỳ-kheo mới được nhận đệ tử mới.

ANH BTS (3).JPG
HT.Thích Minh Thông nói về các vấn đề Tăng sự

ANH BTS (9).JPG
Chư tôn đức tham gia buổi pháp đàm về Tăng sự

Trong Luật tạng, vấn đề thọ giới rất quan trọng, giới tử đăng đàn thọ giới phải đắc giới và giới thể phải thanh tịnh. Trường hợp xả giới và những điều kiện liên hệ cũng được đề cập chi tiết. Để tránh tình trạng phạm giới do thiếu hiểu biết đúng, các giới tử sau khi thọ giới cần phải được học để nhận thức những điều căn bản nhất, giới nào phạm thì được sám hối, giới nào nếu phạm vào sẽ mất tư cách người xuất gia và cách thức sám hối như thế nào là đúng pháp...

ANH BTS (11).JPG
HT.Thích Thiện Đức tham gia thảo luận tại buổi pháp đàm

ANH BTS (13).JPG
HT.Thích Minh Cảnh phát biểu

Không khí buổi pháp đàm sáng nay khá sôi nổi khi đề tài của buổi pháp đàm thiết thực trong bối cảnh hiện nay. Chính vì thế, chư tôn đức trao đổi khá nhiều. Trong phần thảo luận, một vị giáo phẩm dẫn lại lời của một vị Tăng ở miền Bắc cho rằng, Phật giáo ở miền Nam chỉ có giới lạp mà không có hạ lạp. Rất nhiều ý kiến tham gia thảo luận về vấn đề này, nhìn từ nhiều góc độ lịch sử, hệ phái cũng như các quan niệm tế nhị khác.

ANH BTS (16).JPG
TT.Thích Nhật Từ thảo luận về "nhận đệ tử"

ANH BTS (7).JPG
Chư tôn đức cẩn thận ghi chép những kiến thức về Giới luật

Về vấn đề bổn sư có nên nhận nhiều đệ tử, có ý kiến Phật giáo Nam truyền không quy định nhận bao nhiêu đệ tử xuất gia, cho nên số lượng Tăng sĩ trong Tăng đoàn phát triển rất nhanh. Cách mà chúng ta vận dụng có thể sẽ bị “thiểu số” hóa Tăng đoàn. Nếu hạn chế cho trụ trì nhận đệ tử có thể sẽ bị hạn chế, làm hẹp lại cơ hội của Phật tử có tâm nguyện được xuất gia; theo đó, đề nghị chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội cho một số vị trụ trì “có duyên độ đệ tử” mỗi năm độ 10, 20 người... miễn sao vị bổn sư nuôi dạy đệ tử tốt, cho đi học đàng hoàng…

ANH BTS (17).JPG
TT.Thích Lệ Thọ tham gia thảo luận

ANH BTS (18).JPG
TT.Thích Trí Chơn thảo luận về bổn sư có nên nhận nhiều đệ tử

Ngược lại với ý kiến trên, một vị giáo phẩm khác cho rằng, quan niệm nhận nhiều đệ tử như trên là không ổn lắm. Bởi, như vậy giữa thầy bổn sư và đệ tử sẽ không có sự tương tác, điều kiện chăm sóc, dạy dỗ với số lượng đông sẽ không tốt, không có “chất”. Đẩy mạnh việc nhận đệ tử hiện nay cần phải nương vào điều kiện giới luật cho phép.

ANH BTS (15).JPG
HT.Thích Trí Quảng điều phối chương trình thảo luận

ANH BTS (5).JPG
HT.Thích Minh Thông

ANH BTS (6).JPG

ANH BTS (8).JPG
Sáng nay, pháp đàm về Tăng sự khá sôi nổi với nhiều ý kiến đóng góp

Các ý kiến khác của chư tôn đức tại buổi pháp đàm đồng tình với việc Giáo hội ra quy định, mỗi năm một vị trụ trì chỉ nên nhận 3 đệ tử. Có như vậy, thầy bổn sư và đệ tử mới có mối quan hệ gắn kết thân tình, sự tương tác qua thân giáo, đệ tử nhận được sự giáo dưỡng tốt, giữ gìn giới luật, được tu học nghiêm túc, ít có mâu thuẫn thầy - trò, mâu thuẫn trong nội tự.

Vấn đề này, chư tôn đức sẽ còn tiếp tục thảo luận vào sáng ngày mai, 16-8.

H.Diệu - ẢnhBảo Toàn

http://giacngo.vn/thoisu/tintuc/2017/08/15/5BC288/

Mũ Tì-lư của vị Gia trì sư được đội lên trong trai   đàn chẩn tế cô hồn

Nhân quả luận Phật giáo nêu lên con người sau khi chết đi nếu chưa giác ngộ sẽ bị trôi lăn theo nghiệp thức, đoạ lạc ba nẽo ác, nhân gian quy kết 12 loại cô hồn (còn gọi thập loại cô hồn). Tín ngưỡng Phật giáo nhân gian quan niệm ngài Đại sĩ Tiêu Diện do Bồ-tát Quán-thế-âm hóa thân thống nhiếp cô hồn. Trong đó, ngôi vị cao nhất trong xã hội là vua quan, cho đến hèn kém nhất giữa đời thường là kẻ ăn mày đói rách, cho đến kẻ đánh bắt cá, chặt củi, cày cấy, chăn dắt gia súc (ngư, tiều, canh, mục). Văn thỉnh thập nhị loại cô hồn được mô tả logic và trích truyền ròng rặc về sự tích, bối cảnh của người đất Hán.

Đại sĩ Tiêu Diện (còn gọi Diệm khẩu quỷ vương) do Bồ-tát Quán-thế-âm hóa thân hung tợn

Trước hết thử hỏi: ai là tác giả soạn viết văn thỉnh?

Sử ghi nhà thơ nổi tiếng thời Bắc Tống Tô Đông Pha có viết bản “Diệm khẩu triệu thỉnh văn” chứa đựng tâm tư não nề, miêu tả kiếp người mong manh như “hạt sương rơi đầu cành”, những cô hồn nương nhờ uy thần của Tam bảo mới được siêu thoát. Vậy Tô Đông Pha là tác giả ư?

Xưa nay văn chương thi kệ Phật giáo được lưu truyền đều do từ ngòi bút sắc bén của các tăng nhân hay văn nhân có học vấn uyên bác. Văn hiến học Phật điển cũng phải trải qua việc bổ chính, mới trở nên nguồn chảy lâu sâu. Văn thỉnh cũng là một tuyệt tác được lưu thông và ứng dụng cho các nghi thức (đại khoa, trung khoa, lược khoa, thí thực cô hồn) ở miền Bắc, Trung, Nam trong nước; nghiễm nhiên trở thành thiên văn chương bất hủ sống mãi trong mọi thời đại. Tô Đông Pha kết duyên sâu với Phật pháp, kết bạn với hàng tăng lữ đương thời, cho nên văn từ trong văn thơ của ông tuôn chảy thấm đẫm Phật lý. Nhất là giai thoại giữa ông và Thiền sư Phật Ấn cũng được lưu truyền rộng khắp trong cửa thiền. Có người nêu: “Văn thỉnh thập loại cô hồn không phải của ông, bởi vì trong văn thỉnh này, toàn bộ được sử dụng Tứ lục cú 四六句”. Đây là điều không mấy rõ ràng. Tứ lục cú là thể văn ngôn đặc thù thời Trung Hoa cổ đại. Nhưng trong văn thỉnh “Phần biền văn lấy hai câu là chính, chú trọng đối 2 thanh luật, nhiều thì 4 chữ, giữa thành câu 6 chữ”. Rõ ràng thấy được người viết văn thỉnh đã khéo léo dùng phương pháp cổ đại là kết hợp luật văn biền thể, rồi phối hợp với thanh luật để lồng ghép những tuồng tích xa xưa nhằm tạo thêm sức thu hút cho người đọc và cảm thấy dâng trào cảm xúc. Ông là một trong tám nhà thơ lớn (“Đường Tống bát đại gia chi nhất” 唐宋八大家之一) đề xướng việc thay mới cổ văn; lẻ nào lại dùng dạng thanh luật này? Còn phần nhiều văn thỉnh lại dùng văn biền thể. Vả lại, như đoạn “Ngũ quốc oán thanh vị đoạn” (thuộc câu thỉnh 1) thì ‘ngũ quốc’ (五国) là 5 bộ lạc dân tộc thiểu số: Việt Lý Cát, Áo Lý Mễ, Bội A Lý, Bồn Nô Lý, Việt Lý Phùng trong nước Liêu. 5 bộ lạc này nằm ven sông Tùng Hoa, thuộc dòng chảy Hắc Long giang. Sông này là sông lớn nhất trong huyện Y Lan. Sử viết Ngũ quốc còn gọi là Ngũ quốc bộ (五国部). Nước Kim thành lập vào năm 1115; hai năm sau, vào niên hiệu Tĩnh Khang thời Bắc Tống, quân Kim công phá phủ Khai Phong, Tống Khâm tông bị bắt nhốt ở Ngũ quốc, hơn 3000 người trong hoàng cung bị bắt về nước Kim. Triều Bắc Tống bị diệt vong, đây là một “Nổi nhục Tĩnh Khang” tủi nhục nhất trong lịch sử Trung Hoa. Trong Mãn giang hồng (满江红) ghi lại tâm trạng uất hận của anh hùng kì tài Nhạc Phi, Nhạc Phi thốt lời: “Tĩnh Khang nhục, tuyết chưa tan, vua thần hận, cớ sao diệt!”. Triều Tống diệt vong vào niên hiệu Tĩnh Khang thì Đông Pha đã qua đời lâu. Ông sinh vào niên hiệu Cảnh Hựu thứ 4 (1037) thời Tống Nhân tông, qua đời vào đầu niên hiệu Tĩnh Quốc (1101) thời Tống Vi tông. Lúc này Tống Vi tông Triệu Cát đang làm vua, đến thời Tống Khâm tông mất nước; hai vua này bị bắt thì ông đã qua đời 25 năm trước đó. Ông lớn hơn Vi tông 45 tuổi, lớn hơn Khâm tông 63 tuổi. Suy ra, người đời sau viết sử sai nhầm về việc này và xác định văn thỉnh không phải do Tô Đông Pha trứ tác.

Đoạn “…Tây lai chiến hạm, thiên niên vương khí nga thâu” (câu thỉnh 1) được giới phân tích nêu liên hệ đến 2 thuyết:

Thuyết 1: ‘Cửu ngũ chí tôn’ (九五致尊). Con số cửu ngũ (9, 5) bày rõ ngôi cao, “Hai số này mang ý nghĩa tượng trưng cho chí cao vô thượng; cũng nhằm chỉ cho vua. Và chỉ cho người có tài năng mới dùng số biểu trưng này”. Theo thuyết toán số học cổ đại thì hai số này được chia ra âm số và dương số. Đơn số là dương, song số là âm. Trong dương số thì số 9 (cửu 九) là số cao nhất, còn số 5 (ngũ 五) là số ở chính giữa. Do đó thời phong kiến xem hai số này tượng trưng cho quyền lực vua chúa, từ đó mới có quan niệm ‘Cửu ngũ chi tôn’ cao nhất. Theo Kinh dịch thì quẻ đầu của 64 quẻ là quẻ càn. Càn (乾) là trời, trời cao tột hay chỉ cho vua chúa. Trong 6 dương số thì số đầu là 9, cũng là ngôi cao nhất. Trong 6 vị thì cao nhất là quẻ càn, cũng chỉ cho đoạn cuối cũng bị tàn lụi theo lẽ biến dịch. Luận điển Đại thừa như Du-già sư địa luận của Luận sư Vô Trước hay Thành Duy thức luận thuật ký của Đại sư Khuy Cơ cũng hay nói đến các pháp biến lưu vô thường.

Thuyết 2: chỉ cho đại tướng kì văn võ song toàn Vương Tuấn (王濬; 206~286) sống vào đầu thời kì Tây Tấn. Sử Tam quốc ghi, vào niên hiệu Hàm Ninh thứ 5 (279) thời Tấn Võ đế, Vương Tuấn dẫn quân chiếm lấy Vũ Xương, rồi thống nhiếp Kiến Nghiệp (nay là Nam Kinh). Tư Mã Viêm lập triều Tấn và tham vọng muốn thống nhất đất nước, bèn sắc lệnh Vương Tuấn đóng quân ở Tứ Xuyên để huấn luyện thuỷ quân và nỗ lực đóng tàu bè để chuẩn bị dẫn quân từ Trường Giang đánh nước Ngô. Tư Mã Viêm ra lệnh dẫn binh đánh sáu đường, Vương Tuấn thống soái 7 vạn thuỷ quân, dẫn đường thứ nhất rồi tiến đánh Ích Châu (Thành Đô). Vua Tôn Hạo (cháu đích tôn của vua Đông Ngô là Tôn Quyền) hoang dâm vô độ, giết hại trung thần, không đủ sức chống cự nên dăng cờ đầu hàng triều Tấn. Nước Thục diệt vong vào năm 263, nước Ngô diệt vong vào năm 280; cuối cùng giang sơn Hoa Hạ thống nhất một mối.

Luỵ triều đế chúa” là chỉ cho Tấn Hoàn Vương hỗn chiến với nước Ngô. Trải bao thời thay ngôi đổi chủ, cha con tàn hại nhau, anh em hãm hại nhau cũng vì ngôi vị này. Tào Phi rắp tâm muốn giết em trai Tào Thực nên ra lệnh em trai đi bảy bước phải làm xong bài thơ. Trong Bảy bước thành thơ (Thất bộ thành thi 七步成詩) của Tào Thực ghi: “Nấu đậu chụm vỏ đậu, đậu tại trong nồi khóc, vốn một gốc sinh ra, cớ sao đốt gấp vậy.” Thái tử A-xà-thế hãm hại vua cha Tần-bà-sa-la (“Tần-bà-sa-la là vị vua hộ pháp đắc lực nhất kể từ sau khi Đức Phật thiết lập Tăng đoàn”), đã “Giam hãm vua cha trong lao ngục u tối, bị gọt tận móng chân, đói khát mà chết”;còn đối xử tàn các với bà Vi-đề-hi (phu nhân của Tần-bà-sa-la). Nhưng sau khi được Đức Phật điểm hóa,  A-xà-thế “Trở thành vị hộ pháp của giáo đoàn Phật giáo”.

Thiên niên vương khí nga thâu” là quân Kim bắt Tống Khâm tông triều Bắc Tống và bị đày ra sa mạc. “Ngũ quốc oán thân” là từ đó dần dà trở thành Ngũ quốc thành.

Bắc khứ loan dư” làcái chuông lục lạc đeo trên yên ngựa chở vua đi. Từ điển Thiều Chửu giải thích chữ ‘loan’ (銮) là cái chuông nhỏ, chữ ‘dư’ (舆) là xe chở người và vật từ nơi này đến nơi khác. Nhân gian hay nói đến động từ kép ‘dư luận’ (舆論), là chuyên chở những lời đúng sai của từ người này qua người khác. Nhằm chặt đứt hàng rào ngôn ngữ, lời lẽ nhà thiền có câu “Lời đúng sai như hoa rụng buổi sáng” (Thị phi ngôn trục triêu hoa lạc 是非言逐朝花洛.)

Đỗ quyên khiếu lạc”, theo truyền thuyết thì loài chim đỗ quyên rất lạ lùng. Tương truyền, thời xa xưa Thục có người tên Đỗ Vũ giỏi về cày cấy, sau khi lên làm vua lấy tên là Vọng đế, chết đi hoá làm chim đỗ quyên. Từ đó, khái niệm đỗ quyên bắt nguồn từ đây.Đầu lưỡi chim màu đỏ, cuối mùa xuân và mùa hạ thì chim hót tiếng nghe ai oán. Truyền thuyết này được bắt nguồn từ thời Xuân thu Chiến quốc. Trong Định phong ba-Tái Dụng Vận Hoà Triệu Tấn Thần Phu văn của nhà viết ‘từ’ Tân Khí Tật thời kì Nam Tống ghi: “Hoa rơi cỏ dại chẳng ngày xuân. Nghe đỗ quyên hót chợt nhớ xưa.”

Tiền vương hậu bá” chỉ cho ba vị vua: Nghiêu, Thuấn, Vũ; dịch theo thể văn thì trước vua sau quan hay trên vua dưới quan.

Trúc đàn bái trướng” chỉ cho ba vị đại tướng: Hàn Tín, Tiêu Hà, Hà Kỳ. Trước thì Hán Cao Tổ chưa trọng dụng Hàn Tín, sau lại phong Hàn Tín làm đại tướng. Trong Hán thư-Cao đế kí thượng ghi: “Vua Hán giữ giới chay tịnh, lập đàn tràng rồi phong Tín (Hàn Tín) làm đại tướng quân và hỏi về kế sách.”

Kiến tiết phong hầu” là nói về nhà quân sự Ban Siêu thời kì Đông Hán. Ban Siêu lúc nhỏ nghèo khó, nhưng lập chí siêng học tập, rồi sau được phong hầu.

Lực di kim đỉnh thiên cân” chỉ cho vua Hạ Vũ dốc sức dựng nước; và quan đại phu Ngũ Tử Tư thời Xuân Thu đến đầu hàng nước Ngô.

Thân tác trường thành vạn lý” chỉ cho vào thời kì Lưu Tống có đại tướng văn võ song toàn Đàn Đạo Tế.

Sương hàn báo trướng” là những võ tướng lập doanh trại nơi hoang vắng và cắm lá cờ lên, dựng cao ngọn cờ bay phất phới để tỏ ra uy quyền quân đội.

Đồ cần hạn mã chi lao; phong tức lang yên”, ngày xưa chế ra mười làng lập nên một doanh trại hay thường xuyên nhen nhúm khói bếp. Khi trong triều đình có chuyện xảy ra thì nhen khói bốc mịt mù để những nước khác biết mà cứu giúp. Đến buổi chiều thì đốt lửa cho khói bay lên báo hiệu cho quân lính lui lui về doanh trại.

Ngũ lăng tài tuấn” chỉ cho 5 vị vua ở 5 nơi. Hán Cao tổ ở Trường Lăng, Hán Huệ đế ở An Lăng, Hán Văn đế ở Bá Lăng (nay là tỉnh Thiểm Tây), Hán Cảnh đế ở Dương Lăng, Hán Võ đế ở  Mậu Lăng.

Bồng lai chi đảo” là nói đến đảo Bồng Lai nằm trên biển Hoa Đông. Đảo này trong lành yên tịnh, bặt dấu chim bay, vắng vết chân người, là nơi thần tiên dạo chơi và cư ngụ. Cuốn tiểu thuyết Thần thoại truyện của nhà luyện đan thuật Cát Hồng (người đời gọi là Cát tiên ông 葛仙翁) sống vào thời Đông Tấn có nói về đảo Bồng Lai; “thiên Vương Viễn” của Thần thoại truyện nói đến chuyện Vương Viễn sống vào triều Hoàn đế thời Đông Hán giao du với tiên nữ ở dưới biển. Lần nọ, Vương Viễn đến nhà của Thái Kinh, khi bước đến gần nhà bỗng thấy một tiên nữ xinh đẹp đứng trước mặt. Sau đó tiên nữ lại đến nhà Thái Kinh (người do Vương Viễn biến ra) ở biển đông, nói quen biết và muốn giao du với Thái Kinh, rồi tự mình nói đã 3 lần (có thuyết nói 5 lần) thấy bãi biển biến thành nương dâu. Trước đó không lâu, tiên nữ còn đến đảo tiên Bồng Lai (蓬莱仙岛) thấy nước biển sóng nhấp nhô rồi dần khô cạn, mặt biển trở nên mặt đất phẳng lì. Thái Kinh nghe, cười và trả lời: “Bậc thánh đều nói biển cả sẽ bị khô cạn thành đất liền”. Thái Kinh vừa nói vừa đưa tay chỉ và nhìn đăm đăm tiên nữ, nghĩ rằng việc chỉ tay này như móng chim lướt nhẹ, nghĩ rằng chỉ có cách nói lên sự thật mới mang đến tâm thái yên ổn cho tiên nữ. Nào ngờ cách làm này lại bị tiên nữ phản ứng và rất tức giận, lập tức đập đầu xuống đất mà chết.Từ đó nhân gian hay nói câu “Bãi biển biến thành nương dâu” (Thương hải biến vi tang điền). Trong bài tán “Nhất điện mộng hoàng lương” dành cho lễ cúng linh cũng có câu “Nhất triêu thường hải biến, như diệp tợ ngân sương”; nhằm nói đến muôn vật biến dịch như sương đọng trên lá.

Không đàm bí mật chân thuyên” là nói về từ vô pháp rồi khế nhập thực tướng các pháp, hay nói đến tính không,vô ngã.

Bạch hổ lê nô” chỉ cho con trâu màu đen; cũng chỉ “Con bò trắng và nô lệ đen; chỉ chuông mỏ của nhà chùa”.

Hoàng Quan dã khách” là nói đến nhà chính trị triều Đường học rộng tài cao Lý Thuần Phong, hiệu là Hoàng Quan.

Vũ phục tiên lưu” nói đến thời Đường Thái tông có tiên nhân Đàm Tử Tiêu được quyền ra vào tự do trong hoàng cung, được vương triều sắc hiệu là Kim Môn Vũ Khách.

Đào nguyên động” nằm trên núi Chung Nam. “Lý tu chân, lãng uyển châu tiền dưỡng tánh”; ‘Lãng uyển châu’ nằm trên bán đảo Bồng Lai, là nơi để tu chân dưỡng tánh của các đạo sĩ trong Đạo giáo.

Tam hoa’ là tinh thần. ‘Cửu luyện’ là tu luyện học về thất phản cửu hoàn trong Đạo giáo. Là phương pháp kết hợp giữa người, trời, đất (thiên, địa nhân.)

Cát hung chỉ tại phiếm thời; chương ngoã vị phân” chỉ cho ở thị trấn Giang Tân tỉnh Tứ Xuyên có ao Thiên Tuyền (天泉池, đến mùa xuân thì người trong làng đến đây hóng mát. Tương truyền, phụ nữ hay đến ao này mò gạch đá để cầu con, nếu mò được đá sẽ sinh con trai, mò được gạch sẽ sinh con gái.

Nguyệt khuyết hoa tàn, trường đoạn mã ngôi chi dịch” nói đến chuyện Dương Quý Phi là phi tần của Đường Huyền tông nhưng lại vụng trộm tư tình với phản tướng An Lộc Sơn. Sau đó bà bị quân lính bắt và xử chết lúc 38 tuổi.

Trong đó, điều khiến cho mọi người nghi ngờ, thắc mắc là loại cô hồn thứ năm-“Xuất trần thượng sĩ, phi tích cao tăng”. Người tu hành tức là thuộc “Dòng truy y Thích tử” của Phật giáo. Bậc xuất trần thượng sĩ sau khi “hạnh mãn quả viên” xả bỏ báo thân, viên tịch được gọi  là giác linh. Đã giác linh, sao còn đoạ? Công đức của bậc xuất trần cao tột, “Một vị xuất gia, khiến cho chín đời cha mẹ sinh lên cõi trời”. Nhưng đứng từ góc độ khác, nếu người xuất gia không giử tịnh giới, tâm tính bỏn xẻn, cho đến không hiểu rành mạch giới pháp của Đức Phật chế định và giử giới không trọn vẹn thì vẫn bị đoạ đường ác như thường. Kinh Lương Hoàng Sám nói nhiều về điều này.

Truy y (缁衣) còn gọi là hắc y, cũng thay cho người xuất gia. Hắc nhiễm y là ca-sa màu đen hay màu nâu sòng. Văn bia Hồ Ẩn Phương Viên Tẩu Xá-lợi minh (văn bia viết về hành trạng quái gỡ của Tế Điên Hòa thượng. Tế Điên còn gọi là Hồ Ần, Phương Viên Tẩu) của Thiền sư Cư Giản thời Bắc Tống có ghi: ‘Tấn Tống danh truy’ (晋宋名缁), thì chữ ‘truy’ là màu nâu. Đắp y phục màu nâu nhằm phân định tăng lữ. Bộ sử tịch Phật giáo Trung Hoa cổ đại nổi tiếng Lạc dương Già-lam kí, phần “Thành nội Hồ thống tự” của Dương Huyễn Chi (Yang Xuanzhi) thời kì Bắc Nguỵ ghi: “Lúc (các ni cô) vào cung, sau khi thuyết pháp cho Thái hậu phải mặc áo nâu; ai cũng như thế”. Với chiều hướng làm cho khác biệt, nên biến đổi từ hoàng y (y vàng) thành truy y (màu nâu). Tăng sử truyện ghi cao tăng Tuệ Lâm thời nhà Tống khi vào triều chính hay đắp truy y, nên người đời gọi Tuệ Lâm là “Hắc y tể tướng” (黑衣宰相). Hắc y cũng là đối lập của bạch y, nên cư sĩ còn gọi là bạch y, nói đủ là bạch y cư sĩ.

Xuất trần thượng sĩ, phi tích cao tăng”: Xuất trần là chỉ cho người xuất gia thoát khỏi bụi trần. Thượng sĩ còn gọi là đại sĩ, đại nhân, là tên gọi khác của vị Bồ-tát. Thích thị yếu lãm ghi: “Làm không lợi mình lợi người gọi là hạ sĩ, có lợi mình lợi người gọi là trung sĩ, cả hai đều lợi là thượng sĩ”. Thích thị yếu lãm giải thích ý nghĩa chữ ‘phi tích’ nhằm chỉ bậc cao tăng trước đây khi xuống núi đến núi Ngũ Đài đều chống tích trượng. Cao tăng Ấn Độ khi đến Trung Hoa hoằng pháp cũng được gọi là Phi tích. Tăng nhân vân du đây đó đều dùng tích trượng. Đức Phật chế định dùng phi tích để vân du đó đây, cũng là 1 trong 18 hạnh đầu đà.

Hoàng hoa tuý trúc” là mô tả cảnh vật “Trúc xanh hoa vàng”. Thiền ngữ có câu “Trúc biếc xanh xanh, rốt là chân như; hoa vàng rộ nở, đều là bát-nhã”. Cuốn Chỉ nguyệt lục (指月綠) viết về cuộc đối thoại thiền học của Thích Ứng Từ 
(釋應慈) hiệu Hoa Nghiêm Toạ Chủ (華嚴座主) hỏi Hòa thượng Đại Châu: Hòa thượng sao chẳng nhận thấy trúc biếc xanh xanh  rốt là pháp thân, hoa vàng rộ nở đều là bát-nhã?. Đáp: pháp thân vô tướng, nên trúc biếc mà nên hình; bát-nhã vô tri, nên hoa vàng mà bày tướng. Nào ngoài thứ trúc biếc hoa vàng mà có pháp thân bát-nhã.”

Bạch ốc thư sinh” là kẻ học trò thức khuya dậy sớm viết cạn mực giấy nhưng số phận rủi ro bị thi rớt. Kẻ nho nhã lấy việc nghiên tầm sử sách của bậc hiền triết làm sự nghiệp, nhưng bởi do chế độ phong kiến mục nát nên không được trọng dụng, cam chịu vận mệnh ‘học tài thi phận’ mà không được ghi danh bảng vàng. Luống uổng thay!

Thiết nghiễn ma xuyên” là kẻ thư sinh nung đúc ý chí sôi kinh nấu sử mà không gì lay chuyển, chông đèn học trọn canh thâu. Bài thơ Đọc sách đêm lạnh (寒夜读书 Hàn dạ đọc thư) của nhà văn học Lục Du thời Nam Tống ghi: “Gian nan đọc sách đêm tịch mịt, miệng đọc tay viết biết bao năm”. Ham học đến mức độ “Đèn đuốc canh ba gà canh năm gáy” để mong có ngày vinh hiển tổ tông, nhưng vĩnh viễn chẳng thành, chỉ còn là giấc mộng Nam kha.

Phong sương bất trắc” là kẻ đi buôn bị gió bão thổi lật thuyền, kẻ xa quê, rời vợ lìa con, xa cách người thân để tạo dựng cơ nghiệp, mong có một ngày dư dật tiền của, nhưng chẳng may bị hải tặc giết chết hay thân xác chìm sâu dưới dáy biển làm mồi cho loài thuỷ sinh. Muôn trùng cách biệt mà không thể sum họp với người thân.

Nhìn chung, những lời văn này phần nhiều miêu tả cảnh vật buồn tênh, đêm thâu lạnh thổn thức những canh dài trong lòng người, tiếng chim cuốc kêu thê lương, người anh hùng kẻ tướng soái nay nam chinh mai bắc chiến, toàn phơi bày chuyện đau buồn mà chẳng mang lại tâm thái giải thoát theo quan điểm Phật giáo, “Văn từ phần nhiều sáo rỗng, nhiều điển tích vô hồn”. Văn chương ấy lưu truyền thiên cổ, bởi vì “Được cho là hay, vì thói quen. Và cũng do trình độ thưởng thức văn chương của người nghe”.Nếu áp dụng văn thỉnh này thì sẽ không hợp với ngữ cảnh, ngữ văn ở trong nước, nhưng thông qua đọc âm Việt nhưng chữ Hán sẽ tạo nên ý vị lắng sâu và ray rứt tâm can, “Đặc vị văn chương của nó không lấy người sống làm đối tượng. Tự tình nồng nàn được phát tiết như là những tiếng ngậm hờn thiên cổ, sống không nói được, chết chôn vùi theo cát bụi”.Khi nghe tiếng triệu thỉnh theo cung ‘Nam ai’ thoang thoảng giữa đêm khuya thì mặc dù không hiểu ý nói gì, nhưng vẫn hằn in cõi lòng, diễn bày khung trời “Màu sương trăng lạnh phủ trên cánh hoa đào, dòng máu oan thiên hận sự bất thành nhuộm đỏ đầu cây ngọn cỏ. Vậy thì, giang sơn như bức hoạ còn đó, mà anh hùng hào kiết một thời ở đâu, và đâu là ảo vọng của đời người”.Đúng thật âm hưởng biến dịch của kiếp người phảng phất đơn lẻ, cũng là phản ánh cõi trần vô thường.

Trích từ: Chú giải nghi Huế (bản thảo)



Quách Xán Kim,” Sao chí tôn là cửu ngũ”, đăng trên Giải phóng nhật báo, 5-2010

Nguyên văn “Chữ đậu nhiên đậu cơ, đậu tại phủ trung khấp, bổn thị đồng căn sinh, tương tiên hà thái cấp 煮豆燃豆萁, 豆在釜中泣, 本是同根生, 相煎何太急”. Thời này cũng có người nói bài thơ này là ngụy tạo

Huỳnh Hạ Niên, Thích Trung Nghĩa dịch, Lịch sử Phật giáo Trung Hoa cổ đại, phần “Đức Phật và đô thị Phật giáo”, Nxb. Hồng Đức, 2014, tr.383

Sđd

Sđd

theo Vương Tú Chi chủ biên, Bách khoa động vật (动物百科), Nxb. Đại bách khoa Trung Quốc, 2009

theo Vương Tĩnh biên trứ, Sử thoại ngự hải ( 王静编著,驭海史话), Nxb. Khoa học kỷ thuật Hà Bắc, 2015

Theo lời giải thích của ngài Tuệ Sỹ trong cuốn sách mỏng “Lễ tháng bảy cho những oan hồn phiêu bạt”, Ban tu thư Phật học, Pl: 2546

trứ tác quyển Nhất thiết kinh âm nghĩa

Tuệ Sỹ, Lễ tháng bảy cho những oan hồn phiêu bạt, tr.21

sđd

sđd, tr.19

sđd, tr.21

Hơn 130 Lạt-ma Phật giáo từ các khu vực khác nhau của Nga và Mông Cổ đã thực hiện nghi lễ khánh thành hàng giờ ở Tsogchen-dugan, ngôi chùa chính của Aginsky Datsan, tu viện Phật giáo lớn nhất ở khu vực Transbaikalia của Nga. Ngôi chùa đã được xây dựng lại sau khi bị đốt vào năm 2014. 

Theo người đứng đầu của tu viện, Badma Tsybikov, nghi lễ bao gồm 135 Lạt-ma đến từ các vùng khác nhau của Nga, cũng như từ Mông Cổ. Buổi lễ được dẫn dắt bởi người đứng đầu Tăng già Phật giáo Nga Damba Ayusheysv là ngài Lạt-ma Pandito Khambo. 

Tạbikov nói thêm rằng công việc tái thiết chính đã được hoàn thành, nhưng một số công việc vẫn cần phải được thực hiện tại bệ thờ, nơi một bức tượng Phật lớn được lên kế hoạch dựng lên. Các bức tường của ngôi chùa cũng vẽ lại trong năm tới. "Nhưng hoạt động của ngôi chùa đã bắt đầu từ hôm nay", vị Lạt-ma này nhấn mạnh. 

Theo công ty trùng tu Lotos, sau vụ hỏa hoạn, chỉ còn lại nền và bức tường của ngôi chùa. Ông Bair Zhamsuyev, người đại diện cho khu vực Transbaikalia trong Hội đồng Liên bang (Thượng viện), cho biết Bộ Văn hoá Nga đóng vai trò chính trong việc tài trợ công tác tái thiết. 

"Trong 3 năm, Bộ đã phân bổ khoảng 100 triệu rúp (1,6 triệu USD) cho dự án này theo một chương trình mục tiêu của liên bang. Nếu không có điều đó, hôm nay sẽ không có lễ khánh thành này”, ông Zhamsuyev nói. 

Bên cạnh đó, ông Zhamsuyev hoan nghênh các cư dân của Transbaikalia và các khu vực khác của Nga, những người đã hiến 21 triệu rúp (349.000 USD) trong 3 năm. Ngoài các Lạt-ma Phật giáo, hàng trăm tín đồ cũng tham dự lễ cúng dường.

Nghi lễ sẽ tiếp tục vào thứ Bảy (12-8) với một buổi hòa nhạc và các cuộc thi đấu thể thao sẽ diễn ra. 

Ngôi chùa được xây dựng vào thế kỷ 19 bị đốt cháy vào ngày 27-5-2014. Các nhà sư và tín đồ đã di dời kinh sách, bàn thờ và xá-lợi cũng như tượng Phật Thích Ca Mâu Ni khỏi ngôi chùa đang cháy.

Văn Công Hưng (theo Tass)

Sáng nay, 12-8 (nhằm ngày 21-6 nhuận- Đinh Dậu), ngày thứ hai trong khóa cấm túc tu tập 10 ngày tại Việt Nam Quốc Tự (Q.10, TP.HCM), gần 100 vị là chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội TP, quận, huyện và các ban trực thuộc đã thảo luận về nghi thức thiền gia.

ANHBT (6).JPG
HT.Thích Trí Quảng chủ trì buổi pháp đàm

Buổi pháp đàm do HT.Thích Trí Quảng, Phó Pháp chủ HĐCM, Trưởng BTS GHPGVN TP.HCM chủ trì; TT.Thích Lệ Trang, Phó Trưởng ban Nghi lễ T.Ư, Trưởng ban Nghi lễ Phật giáo TP trình bày về “Nghi lễ thiền gia”.

Theo TT.Thích Lệ Trang, nghi lễ thể hiện qua cách sống của người xuất gia trên thiền đường. Lễ phần nào đó là cách bày tỏ nội lực của mình, lễ không do mình tự chế ra mà nó có những khuôn mẫu do chư Tổ để lại, trên cơ sở đó các thế hệ sau kế thừa mà thực hành.

ANHBT (4).JPG
TT.Thích Lệ Trang nói về quy cũ thiền gia

ANHBT (3).JPG
Chư tôn đức của khóa cấm túc 10 ngày

Nghi lễ của thiền gia nên chia làm 2 phần: nghi lễ đại chúng và nghi lễ truyền thống. Nghi lễ đại chúng nên Việt hóa, như các lễ: tưởng niệm, Phật đản…; những buổi lễ thuần túy mang tính cầu nguyện mà chư tôn đức Phật giáo cả 3 miền có thể chấp nhận được. Nghi lễ truyền thống do chư Tổ để lại, trên quan điểm có khế cơ, qua cách xướng lễ…, qua hành trì thể hiện sự an lạc, nhất là trong các khóa An cư cấm túc.

Thượng tọa mong, qua pháp đàm này, chư tôn đức sẽ thảo luận, tìm ra phương hướng thống nhất về quy cũ thiền gia, về một mô hình cho chư Tăng TP.HCM có thể ứng dụng. Qua một ngày sinh hoạt tùng lâm, một ngày cấm túc với các thời khóa: công phu, tụng sám, tụng chú Lăng Nghiêm, thiền tọa, v.v... ; cách thức sử dụng năng lượng của âm thanh (giọng thiền, giọng ai) trong các thời tụng niệm, chư tôn đức có thể nhận ra phần nào thêm, phần nào giảm.

ANHBT (2).JPG

ANHBT (7).JPG
Tham gia thảo luận về nghi lễ thiền gia

HT.Thích Trí Quảng chủ trì khóa pháp đàm cho biết, trong khuôn khổ của pháp đàm, lấy trí tuệ tập thể quyết định, khóa tu lần này không tham vọng thống nhất nghi lễ Phật giáo cả nước vì mỗi miền, nghi lễ có đặc trưng riêng. Ở đây, chúng ta cần tìm ra mô hình, thống nhất các nghi lễ của TP.HCM để ứng dụng lâu dài, không để mất gốc, nhưng cũng không quá cố chấp.

ANHBT (10).JPG
HT.Thích Huệ Văn tham gia thảo luận

ANHBT (5).JPG
Hơn 100 vị chúng nội thiền và ngoại thiền tham gia pháp đàm về nghi lễ

Đa phần chư tôn đức Tăng tại khóa cấm túc cho rằng, khóa tu có nhiều lợi ích thiết thực qua các thời tu tập, sinh hoạt về nghi lễ… Chư tôn đức cũng yêu cầu mỗi năm, Giáo hội TP nên tổ chức một khóa cấm túc như thế này nhưng không rơi vào thời điểm mùa an cư để chư tôn đức có thể được tham gia rộng rãi hơn.

ANHBT (1).JPG
HT.Thích Minh Cảnh phát biểu thảo luận

ANHBT (9).JPG
Đóng góp ý  kiến về nghi lễ

ANHBT (8).JPG

ANHBT (11).JPG
Ngày mai, chư tôn đức tiếp tục bàn về quy cũ thiền gia

PV GNO tiếp tục cập nhật thông tin sinh hoạt của chư Tăng trong khóa cấm túc 10 ngày tại Việt Nam Quốc Tự do GHPGVN TP.HCM tổ chức đến bạn đọc quan tâm.

H.Diệu Ảnh Bảo Toàn

http://giacngo.vn/thoisu/tintuc/2017/08/12/7FD2C0/

«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»
Trang 1 trong tổng số 10

Ảnh Đẹp

images1039572_2_hoa_mai_1_.jpg
  • MP3 Nghe Nhiều

  • Tin Mới

  • Tin Đọc Nhiều

Suy Niệm Lời Phật Dạy

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Sududdasa.m sunipuna.m yatthakaamanipaatina.m
Citta.m rakkhetha medhaavii citta.m gutta.m sukhaavaha.m.

The mind is very hard to perceive,
extremely subtle, flits wherever it listeth.
Let the wise person guard it;
a guarded mind is conducive to happiness

Tâm tế vi, khó thấy,
Vun vút theo dục trần,
Người trí phòng hộ tâm,
Phòng tâm thì an lạc.
(PC 36)

Kẻ đam mê ái dục,
Say đắm theo lục trần,
Tuy mong cầu an lạc,
Sanh tử vẫn hoại thân.
(PC 341)

Chiến thắng gây thù hận,
Thất bại chuốc khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau
(PC 201)

Lịch và Đồng hồ

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Thăm dò ý kiến

Giao diện mới của Phật Học Thường Thức ?